21/04/2020
135

Sự hình thành và phát triển của Tâm lý học hiện đại (Phần 1)

Sự hình thành và phát triển của Tâm lý học hiện đại (Phần 1)

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 
CỦA TÂM LÝ HỌC HIỆN ĐẠI 

PHẦN I

Dù sinh sớm nhưng tâm lý học lại lớn muộn so với những ngành khoa học khác, cả tự nhiên và xã hội. So sánh với thời gian các ngành khác độc lập khỏi triết học: Vật lý vào khoảng giữa thế kỷ 16 và 17 với cuộc cách mạng khoa học; Hóa học vào giữa thế kỷ 17 với sự ra đời của cuốn sách “Nhà Hóa học đa nghi” của Robert Boyle đã tách biệt Hóa học và Giả kim; Sinh học vào khoảng từ thế kỷ 18 đến 19 với sự ra đời của hàng loạt các học thuyết trong đó nổi tiếng là Thuyết tiến hóa của Charles Darwin; thậm chí cả Kinh tế học, được khai sinh vào năm 1776 với sự ra đời của cuốn sách “Của cải của các quốc gia” viết bởi Adam Smith, cũng đã nhanh chóng có được chỗ đứng riêng như bộ môn đi đầu trong các ngành khoa học xã hội. 

Còn đối với tâm lý học, phải đến cuối thế kỷ 19 thì ngành học này mới bắt đầu tách ra khỏi Triết học để trở thành một ngành nghiên cứu độc lập. Tuy nhiên, ngay sau đó, tâm lý học đã nhanh chóng có những bước phát triển vượt trội để trở thành một ngành nghiên cứu kết hợp giữa cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội như ngày nay.

Nguồn gốc tên gọi

Thần thoại Hy Lạp kể rằng, Psyche là một người phụ xinh đẹp đến nỗi nữ thần sắc đẹp Aphrodite cũng phải ghen tị, đến mức nữ thần đã lệnh cho con trai là nam thần tình yêu Eros phải khiến Psyche đem lòng yêu người đàn ông xấu xí nhất thế gian. Trớ trêu thay, Eros vô tình bị thương bởi chính những mũi tên của mình và đem lòng yêu Psyche. Nam thần đưa Psyche đến cung điện của mình và để cô sống một cuộc sống sung sướng với điều kiện cô không được nhìn thấy mặt mình -vì một lý do nào đó. Tuy nhiên, sau khi nghe lời hai chị xúi giục, Psyche đã không giữ giao ước và khiến Eros phải lộ mặt. Vì lý do này, nam thần đã bỏ Psyche mà đi. Nhưng đời nào Psyche chịu buông khi đã nhận ra người tình là thần tình yêu. Cô đã lên thỉnh cầu Aphrodite để được gặp lại Eros. Nhân cơ hội này nữ thần đã trao cho cô một loạt những thử thách “bất khả thi”. Nhưng Psyche, bằng những nỗ lực của bản thân- và sự tưởng tượng của người kể chuyện- đã vượt qua tất cả các thử thách. Rốt cục, cô đã có thể đoàn tụ với Eros và cuối cùng là trở thành một vị thần. 

Câu chuyện của Psyche hàm ý nói lên sự chiến thắng của tâm hồn trước nghịch cảnh để theo đuổi hạnh phúc đích thực, và từ Psyche trong tiếng Hy Lạp cũng có nghĩa là tâm hồn hay linh hồn. Đến khoảng giữa thế kỷ 16, nhà lãnh đạo tôn giáo người Đức là Melanchthon đã kết hợp Psyche với logia, tiếng Hy Lạp chỉ các môn khoa học, thành Psychologia, với ý nghĩa là môn khoa học của tâm hồn. Đến năm khoảng những năm 1732 - 1748, triết gia người Đức Christian Wolff, trong cuốn “Psychologia empirica”, đã lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Psychology” với ý nghĩa là một môn khoa học của tâm trí. Một thời gian sau, vào khoảng đầu những năm 1890, những ý nghĩa về hành vi mới bắt đầu đầu được gắn với từ Psychology.  

Wundt và Chủ nghĩa Kết cấu

Wilhelm Wundt (1832-1920) là một nhà khoa học người Đức, và cũng là người đầu tiên được gọi với danh xưng “nhà tâm lý học”. Trong cuốn sách nổi tiếng của ông- “Các nguyên lý của tâm lý học sinh lý” (Physiological psychology), xuất bản năm 1873- Wundt đã nhìn nhận tâm lý học như một ngành khoa học của các trải nghiệm có ý thức. Ông tin rằng mục tiêu của tâm lý học là xác định các thành tố cấu thành nên ý thức và cách các thành tố đó kết hợp với nhau để tạo nên các trải nghiệm.

Nỗ lực để hiểu về cấu trúc hay các đặc điểm của tâm trí mà ông đề xuất đã được biết đến với cái tên Chủ nghĩa Kết cấu (Structuralism). Bằng cách để một cá nhân tự kiểm tra ý thức của mình một cách khách quan nhất có thể, Wundt hướng đến việc khiến tâm trí con người trở thành một đối tượng mà các nhà khoa học có thể quan sát được. Kỹ thuật này được biết đến như sự tự vấn nội tâm (introspection), mà khi đó ông gọi là tri giác nội tâm (internal perception). Để đạt được tính chính xác và khách quan cần thiết, Wundt đã đặt ra 2 điều kiện với các thí nghiệm trong đó một kích thích bên ngoài được sắp đặt để tạo ra những trải nghiệm tâm trí có thể quan sát được:

  • Đầu tiên là những người quan sát phải được huấn luyện, hoặc có nhiều kinh nghiệm, có thể ngay lập tức nhận ra và ghi lại những phản ứng của đối tượng.
  • Thứ hai là những kích thích được lặp lại phải luôn tạo ra trải nghiệm giống nhau cho đối tượng, từ đó cho phép đối tượng có thể dự đoán và từ đó tập trung vào các phản ứng nội tâm.

Ông và các học trò đã thực hiện những thí nghiệm trên nhiều khía cạnh của tâm lý học, ví dụ như thời gian phản ứng. Trong thí nghiệm, một đối tượng nhận được một kích thích- như ánh sáng, hình ảnh hoặc âm thanh- và sẽ phải nhấn nút sau khi nhận thức được kích thích, một thiết bị sẽ ghi lại thời gian phản ứng, với độ chính xác lên đến 1/1000 giây.

Mặc cho những nỗ lực của Wundt, quy trình này vẫn vô cùng chủ quan, và có rất ít sự tương đồng giữa các đối tượng thí nghiệm. Kết cục là Chủ nghĩa Kết cấu không còn được ưa chuộng bởi bất kỳ học giả nào khác ngoài những học trò của Wundt. Dù vậy, lịch sử vẫn ghi nhớ ông và những nỗ lực của đầu tiên đưa tâm lý học trở thành một ngành khoa học thực nghiệm như một cột mốc quan trọng đánh dấu sự khai sinh của tâm lý học hiện đại.

James và Chủ nghĩa Chức năng

William James (1842 - 1910) là nhà tâm lý học người Mỹ đầu tiên tán thành việc thay đổi góc nhìn cũng như cách thức tâm lý học nên được tiến hành. Sau khi được tiếp xúc với Thuyết Tiến hóa theo chọn lọc tự nhiên của Darwin, James bị thuyết phục bởi lời giải thích của nó cho những đặc điểm của các sinh vật. Cốt lõi của Thuyết Tiến hóa nằm ở việc quá trình chọn lọc tự nhiên sẽ dẫn đến sự phát triển của những cá thể với các tính trạng giúp chúng thích nghi được với điều kiện sống, trong đó có bao gồm cả các hành vi. 

Bị  tác động mạnh mẽ bởi Thuyết Tiến hóa, James đã xây dựng quan điểm của bản thân về tâm lý học, được biết đến với cái tên Chủ nghĩa Chức năng (Functionalism). Theo đó, mục đích của tâm lý học là nhằm nghiên cứu chức năng và tác dụng của những hành vi trong tương tác với thế giới. Vì vậy, Chủ nghĩa Chức năng tập trung vào cách thức mà những hoạt động của tâm trí giúp sinh vật thích nghi với môi trường sống. 

Một điểm đáng chú ý là do James và Wundt sống trong cùng một thời kỳ (2 người chỉ chênh nhau 10 tuổi) nên trong những nhà tâm lý học theo chủ nghĩa này có một số người quan tâm hơn đến sự vận hành của toàn thể tâm trí, cũng là mục tiêu hướng đến của Chủ nghĩa Kết cấu, chứ không chỉ từng phần với mục đích riêng biệt. Bản thân James cũng tin rằng sự tự vấn nội tâm (introspection) cũng có thể được coi như một cách thức để nghiên cứu những hoạt động của tâm trí, nhưng ông vẫn tin tưởng hơn vào các phương thức nghiên cứu khách quan và vững chắc như giải phẫu và sinh lý học. Có lẽ đó cũng là lý do mà cho đến nay, các ý tưởng của ông trong tâm lý học nói chung và Chủ nghĩa Chức năng nói riêng vẫn được áp dụng rộng rãi, thậm chí còn được phát triển thêm trở thành Tâm lý học Tiến hóa (Evolutionary Psychology)

Freud và Thuyết Phân tâm học

Có lẽ trong lịch sử của tâm lý học thì bác sĩ thần kinh người Áo Sigmund Freud (1856 - 1939) là nhân vật được biết đến và có tầm ảnh hưởng rộng lớn nhất. Trong quá trình nghiên cứu và làm việc, ông đã bị hấp dẫn bởi những bệnh nhân phải chịu đựng chứng “cuồng loạn” (Hysteria)- một phép chuẩn đoán cổ xưa cho những bệnh rối loạn tâm lý, và chủ yếu dùng cho phụ nữ- và rối loạn thần kinh chức năng.

Freud giả thuyết rằng nhiều vấn đề của các bệnh nhân xuất phát từ tiềm thức của họ, cũng như là những trải nghiệm thời thơ ấu, và đó cũng là nền móng để ông xây dựng Thuyết Phân tâm học (Psychoanalytic theory) sau này. Theo ông, tiềm thức là nơi chứa đựng những cảm xúc và ham muốn mà ta không nhận thức được, và việc tiếp cận được với tiềm thức là tối quan trọng để tìm ra giải pháp cho những vấn đề của người bệnh. Ông cho rằng tiềm thức có thể được tiếp cận thông qua việc phân tích giấc mơ, nghiên cứu những từ đầu tiên mà bệnh nhân nghĩ đến, và qua những trường hợp nói hớ (slips of tongue)- hay còn gọi là nói hớ kiểu Freud (Freudian slip)- mà thoạt nghe có vẻ vô nghĩa.

Thuyết Phân tâm học đến nay vẫn có những ảnh hưởng lớn đến không chỉ tâm lý học- đặc biệt là tâm lý học Lâm sàng- mà còn đến cả các mặt khác của xã hội như giáo dục, nghệ thuật,... Những phương pháp của Phân tâm học mà đến giờ vẫn còn đang được áp dụng như nói chuyện với bệnh nhân về những trải nghiệm và bản thân họ, dù kỹ thuật này không phải do Freud sáng tạo ra, cũng chắc chắn đã nhờ ông mà trở nên nổi tiếng. Đến nay, nhiều phương thức tiếp cận lâm sàng của Freud đã được chứng minh là có hiệu quả. Tuy vẫn còn nhiều quan điểm của ông gây tranh cãi, nhưng cũng không thể phủ nhận kết quả của nhiều ý tưởng mà Freud đã giới thiệu hoặc phát triển, như tầm quan trọng của những trải nghiệm thơ ấu, vai trò của tiềm thức, sự phát triển của tính cách theo thời gian, ...  

Wertheimer, Koffka, Köhler và tâm lý học Tổng thể

Max Wertheimer (1880 -- 1943), Kurt Koffka (1886 - 1941), và Wolfgang Köhler (1887 - 1967) là ba nhà tâm lý học người Đức nhập cư vào Mỹ vào đầu thế kỷ 20 nhằm thoát khỏi Đức Quốc xã. Đây là những người được biết đến với việc đem đến cho những nhà tâm lý học ở Mỹ nhiều nguyên lý khác nhau phản ánh nhận thức tổng thể.

Những nguyên lý này được biết đến với tên gọi Tâm lý học Tổng thể (Gestalt psychology), mà trong đó phần lớn phản ánh sự thật rằng mặc dù những trải nghiệm giác quan có thể được chia ra thành các phần nhỏ hơn, thì cách các phần đó liên kết với nhau như một tổng thể mới thật sự phản ánh cách mà một cá nhân thực sự nhận thức. Có thể ví việc này như như một bản nhạc, dù có thể được cấu thành bởi các nốt riêng biệt được tạo ra bởi các các nhạc cụ riêng biệt, thì bản chất thật của bản nhạc phải được lĩnh hội trong một tổng thể các nốt nhạc để tạo ra các nhịp điệu. Các nguyên lý của tâm lý học Tổng thể về nhận thức có thể kể đến gồm có:

  • Quy luật Tương đồng (Similarity): Nhận thức sẽ tự động nhóm những thứ có sự tương đồng với nhau
  • Quy luật Chính xác (Pragnanz): Nhận thức sẽ tiếp nhận thực tại một cách giản lược nhất
  • Quy luật Gần gũi (Proximity): Nhận thức sẽ tự động nhóm những vật thể ở gần nhau
  • Quy luật Liên tục (Continuity): Những đường kẻ được nhận thức như đang đi theo hướng “mượt” nhất
  • Quy luật Đóng kín (Closure) Những vật thể được nhóm lại với nhau sẽ được nhận thức như một tổng thể.

Đáng tiếc là, sau khi chuyển đến Mỹ, những nhà khoa học này đã bị buộc phải từ bỏ phần lớn những công trình của họ, đồng thời cũng không thể tiếp tục thực hiện nghiên cứu trên quy mô lớn. Những yếu tố trên, cùng với sự nổi lên ở Mỹ của Chủ nghĩa Hành vi (mà chúng ta sẽ nói ở phần sau) đã khiến những nguyên lý của tâm lý học Tổng thể không thể phát triển tạo Mỹ như tại Đức. Dù vậy, việc xem xét từng người như một tổng thể thay vì một chắp ghép của một vài phần đơn lẻ vẫn có ảnh hưởng đến một số học thuyết tâm lý học sau này, và thậm chí vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng đến những nghiên cứu hiện nay về cảm giác và nhận thức.  

Kết

Dù là linh hồn, tâm hồn, tâm trí hay hành vi, mục đích hướng đến của tâm lý học (Psychology) vẫn luôn là giải thích và cố gắng để hiểu lý do một cá thể nghĩ những gì nó nghĩ, làm những gì nó làm để từ đó có thể dự đoán và xa hơn là cải thiện để cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, vì đối tượng nghiên cứu quá rộng và thường là vô cùng trừu tượng, tâm lý học đã tốn một thời gian rất dài để có thể trở thành một môn khoa học với các kết quả có thể đo lường, so sánh. 

Sau khi Wundt đặt nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm, tâm lý học đã phát triển mạnh mẽ với nhiều hướng nghiên cứu và học thuyết. Trong khi Chủ nghĩa Kết cấu, Thuyết Phân tâm học và tâm lý học Tổng thể, theo cách này hay cách khác, quan tâm đến việc mô tả và hiểu được những trải nghiệm bên trong, thì Chủ nghĩa Chức năng chú trọng giải thích lý do mà những trải nghiệm này tồn tại, đặc biệt là qua việc xem xét các hành vi phát sinh từ các trải nghiệm đó. 

Các học thuyết tâm lý học sau này tiếp tục đi theo hướng khoa học với sự ưu tiên dành cho các thí nghiệm có thể đo lường được, và xu hướng này bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những tiến bộ của khoa học công nghệ trong từng thời kỳ. Trong phần sau, tôi sẽ nêu nốt sự phát triển của tâm lý học hiện đại cũng như tâm lý học thực nghiệm, những sự thay đổi của tư tưởng về đối tượng mà tâm lý học nên tập trung nghiên cứu, đã định hình nên tâm lý học ngày nay.

[Tên tác giả: VuHoang

- Follow Facebook PsychoHub để đọc các bài khác

- Khi chia sẻ, cần phải trích "Nguồn: PsychoHub - Youth+"]

Nguồn tham khảo:

https://cnx.org/contents/Sr8Ev5Og@7.2:lAYBvVZM@5/History-of-Psychology

https://www.etymonline.com/word/psychology